TỔ QUỐC DANH DỰ TRÁCH NHIỆM

TỔ QUỐC lâm nguy nguyện dấn thân
Phục hồi DANH DỰ trả toàn dân
Mọi người TRÁCH NHIỆM chung vai gánh
Dân Chủ, Tự Do quyết đạt thành!


MỘT CÁCH NHÌN KHÁC VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM

MẶC GIAO


TỔNG KẾT

Văn hóa Việt Nam thể hiện qua ngôn từ, cả trước và sau khi có chữ viết. Ngôn từ thể hiện tâm hồn, diễn tả nếp sống và là nhịp cầu nối kết những con người nói cùng một ngôn ngữ, là sợi dây ràng buộc từng người vào cộng đồng dân tộc. Qua những câu ca dao, tục ngữ, luôn luôn được bổ xung theo giòng thời gian và truyền tụng tới bây giờ, chúng ta có thể tạm tổng lược văn hóa Việt Nam vào những điểm nổi bật sau đây:

1/ Về tin tưởng siêu hình

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hữu thần, có đời sống tâm linh phong phú. Niềm tin phổ quát nhất là tin Trời, đấng tạo thành vũ trụ và con người, đấng cầm cân nẩy mực mọi điều lành dữ trên đời. Ngay khi theo Phật với triết lý “tự giác nhi giác tha”, với lý thuyết luân hồi, qủa báo, duyên nghiệp, người Việt vẫn tiếp tục tin Trời và biến luôn Đức Phật thành đấng vạn năng, một cách gọi khác của Trời: Trời Phật. Vì vậy người Việt có đặc tính khoan dung tôn giáo. Đạo nào cũng được tiếp nhận. Phật, Lão, Khổng, Thiên Chúa giáo sống chung hài hòa với đạo thờ kính tổ tiên, các thần linh và anh hùng dân tộc. Người ta ghi nhận có 26 vị thần linh thuần Việt (theo Hội Chân Biên 1847 của Thanh Hòa Tử) (1), trong đó có bốn vị được gọi là Tứ Bất Tử: Thánh Tản Viên (tức Sơn Tinh, vị thần đã thắng Thủy Tinh và được vua Hùng gả con gái), Đức Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương (mới ba tuổi đã cầm quân đánh tan quân xâm lăng phương Bắc), Chử Đồng Tử ( chàng trai nghèo dành chiếc khố độc nhất để liệm thây cha, phải dấu mình dưới nước, bị công chúa Ngọc Dung phát giác khi đi tắm, nhận làm chồng. Sau hai vợ chồng bay lên trời, hiển linh, chữa bệnh, cứu nạn cho dân, giúp dân chống ngoại xâm) và Công chúa Liễu Hạnh, con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế, thác sinh nhà họ Lê, thời Thiên Hựu (1557). Việc thờ các thần linh và anh hùng dân tộc có gốc rễ từ đạo thờ kính tổ tiên, pha thêm việc thờ tiên thánh của đạo Lão. Điều này lại chứng minh thêm cho thái độ khoan dung tôn giáo của dân tộc ta. Trong lịch sử Việt Nam, người ta chỉ thấy có vua chúa cấm đạo vì lý do chính trị hay quyền lợi, không có cuộc thánh chiến nào do tín đồ các tôn giáo phát động. Theo đạo nào thì họ cũng ở chung làng, chung nước, cùng giữ truyền thống của dân tộc, cùng chia sẻ gánh nặng và quyền lợi. Việt Nam là đất lý tưởng của “Đa giáo đồng nguyên”.

Một điểm đặc biệt khác là người Việt Nam khi theo đạo nào thì trở thành tín đồ rất sùng tín của đạo ấy. Không có việc theo đạo cho có lệ. Nhưng đã theo đạo là phải hành đạo. Điều này đã gây ngạc nhiên cho người ngoại quốc khi họ thấy những nơi thờ phượng của người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, đều đông nghẹt tín đồ mỗi khi có lễ nghi tôn giáo.

Cuối cùng, người Việt Nam cũng có khuynh hướng đa thần, bái vật, tin tưởng và thờ đủ thứ mà họ coi là linh thiêng, có thể gây phúc hoặc tác họa cho cuộc sống của họ. Tuy nhiên, những tin tưởng và thờ bái này chỉ là “những món ăn chơi” so với những tôn giáo chính. Điều này chứng tỏ người Việt Nam có tính dị đoan, nhưng cũng còn thua xa người Trung Hoa.

2/ Về quan niệm sống

a – Tính nhân bản: Người Việt Nam tôn trọng sự sống, tôn trọng con người. Không có việc hy sinh người sống để tế thần. Không có nô lệ, nông nô, lãnh chúa. Không có giai cấp để phải đấu tranh. Thường dân được chia ra bốn loại: sĩ, nông, công, thương. Nông thì chỉ có tá điền, tiểu nông và phú nông với năm mười mẫu ruộng (chỉ sau này ở miền Nam, sau khi bị Pháp xâm chiếm, mới có những đại điền chủ người Việt hay người Pháp có ruộng thẳng cánh cò bay)(2). Công thì chưa có thành phần đại chủ nhân để bóc lột công nhân. Thương cũng chưa có đại tư bản để tích lũy tài sản. Có thể nói xã hội còn sinh hoạt trong phạm vi nhỏ nên con người sống có tình với nhau.

Quan niệm “trọng người” cũng bắt nguồn từ Thượng Kinh trong Kinh Dịch nói về hai quẻ Càn, Khôn, tức trời đất giao thoa, con người ở giữa. Trời, đất, người là Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân. Thiên sinh, địa dưỡng, nhân hòa. Người chính là đức của trời đất (Nhân giả kỳ thiên địa chi đức). Kinh Dịch còn khẳng định người là cái khí tinh tuyền của âm và dương (âm dương chi tú khí) (3). Như vậy phải chăng tính nhân bản của người Việt sở dĩ có là do ảnh hưởng của Trung Hoa? Không phải vậy. Theo Kim Định, Khổng Tử viết Tứ Thư, Ngũ Kinh là chỉ ghi chép lại những điều có sẵn trong dân gian. Chính Ngài xác nhận là mình không sáng tác điều gì hết (thuật nhi bất trác). Khổng Tử cũng nói đạo lý ấy ở phương Nam mà đến (Khoan nhu dĩ giáo bất báo vô đạo Nam phương chi cường dã quân tử cư chi. – Trung Dung/10). Dân gian là ai? Thưa là giống Bách Việt, hậu duệ của Viêm tộc, tổ tiên xa của Việt tộc. Phương Nam ở đâu? Thưa là miền đất phía nam sông Dương Tử, nơi dân Bách Việt sinh sống và sau này họ chạy xuống và rút về phía Nam hơn nữa là lãnh thổ Việt Nam. Khổng Tử viết sách khoảng 500 năm trước Tây Lịch, trong khi Viêm tộc và hậu duệ đã sống ở vùng sông Dương Tử và Động Đình Hồ từ ba, bốn ngàn năm trước đó. Vậy Khổng Tử chỉ ghi lại và sắp xếp lại những điều tai nghe mắt thấy nơi dân Bách Việt. Theo quan điểm của chúng tôi, không thể nói Hoa tộc học của Việt tộc, hay ngược lại. Phải nói rằng có sự giao lưu văn hóa, có sự pha trộn và gạn lọc, và kẻ mạnh, kẻ thắng luôn luôn chiếm đoạt mọi thứ của kẻ yếu, kẻ thua làm của mình. Chúng ta chẳng nên giành giật làm chi cái nhãn hiệu. Chỉ cần nhắc tới những sự kiện như Kim Định đã viết trong hàng chục tác phẩm của ông về Việt Nho, Việt Triết, để hậu thế biết rằng không phải cái gì chúng ta cũng học lại của người Hoa, mà thật ra đó là sự trao đổi, đóng góp, trong đó chúng ta cũng có góp phần không nhỏ.

b – Quyền lợi cá nhân phải phục vụ quyền lợi tập thể: Đi từ tập thể nhỏ là gia đình. Mỗi cá nhân trong gia đình coi việc phải chia xẻ, đôi khi hy sinh quyền lợi của cá nhân mình để lo cho người khác là điều tự nhiên: làm việc cực khổ để nuôi những người khác ăn học hay không có việc làm, chạy chữa cho một phần tử đau ốm trong gia đình hay cứu một người khỏi vòng tù tội v.v… Khi có chuyện gì xảy ra trong gia đình là mọi người phải xúm vào giải quyết và cùng chia xẻ gánh nặng. Không ai có thể thờ ơ như người ngoại cuộc. Sự hy sinh được đền bù. Trước hết về tinh thần, không ai cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi. Sau đó là có sự trợ giúp cụ thể và tự nguyện mỗi khi cần được giúp đỡ. Đối với làng xóm cũng vậy. Sống ở trong làng là phải đóng góp, tuân theo những tục lệ của làng. Cá nhân phải hy sinh quyền lợi và một phần tự do, nhưng được đền bù vì được bảo vệ một đời sống an ninh, một nếp sống luân lý và tinh thần, được hưởng sự liên đới từ khi sinh ra cho tới khi chết, luôn luôn được quan tâm và giúp đỡ những khi “tối lửa tắt đèn”. Đối với quốc gia, cá nhân không đòi hỏi quốc gia phải làm gì cho mình, ngược lại chỉ biết đóng góp, làm bổn phận công dân và điều mong mỏi duy nhất là “trời yên, bể lặng” để được yên ổn làm ăn.

Tôn trọng sự sống, tôn trọng con người, nhưng con người phải biết đặt quyền lợi của tập thể trên quyền lợi của cá nhân. Đó là một đặc tính văn hóa nữa của người Việt.

3/ Về nếp sống

Nếp sống của người Việt trong gia đình, trong làng xã, trong quốc gia cũng nói lên những nét đặc trưng của văn hóa Việt

a – Tinh thần gia đình : Văn chương bình dân đã chứng tỏ người Việt Nam có tinh thần gia đình rất nặng. Đó là mối dây liên kết chặt chẽ mọi phần tử trong gia đình để họ phải liên hệ với nhau trong mọi hoàn cảnh vui buồn, sướng khổ, vinh quang cũng như tủi nhục, liên kết với người sống và liên kết cả với người chết trong việc thừa kế những di sản tinh thần của gia đình. Tình liên kết gia đình được mở rộng tới các phần tử trong đại gia đình, trong giòng họ dù xa dù gần theo ý nghiã “giọt máu đào hơn ao nước lã” . Vì vậy mọi người trong gia đình phải có bổn phận quan tâm đến nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Những người thất nghiệp không sợ không có cơm ăn, nhà ở; những người tàn tật, bệnh hoạn không sợ bi xua đuổi; cha mẹ già không cần lương hưu trí, vẫn được con cháu phụng dưỡng và kính nể. Gia đình nào có nhiều thế hệ sống chung dưới một mái nhà được vua trọng thưởng. Theo “Đại Nam Điển Lệ Toát Yếu Tân Biên”, năm Minh Mạng thứ bẩy (1826), vua ra lệ gia đình nào được năm đời ở cùng một nhà (ngũ đại đồng đường), thì được vua thưởng 20 lạng bạc, 20 tấm vải, 10 tấm lụa, 1 tấm đoạn. Trích ở số bạc nói trên ra 10 lạng để quan sở tại dựng một cái phường (nhà vuông nhỏ), chế một cái biển khắc bốn chữ “Dịch diệp diễn tường” (mấy đời liên tiếp hưởng sự tốt lành) treo ngang cao để nêu rõ sự khen thưởng (4).

Nét đặc biệt trong liên hệ cha mẹ/con cái của gia đình Việt Nam đã được nhiều người ngoại quốc nhìn ra một cách chính xác. Linh Mục Nguyễn Văn Phong, khi cộng tác với Trung Tâm Nhiên Cứu Khoa Học của Pháp (Centre National de Recherches Scientifiques), đã nghiên cứu về xã hội Việt Nam dựa theo những nhận xét của các tác giả Pháp từng sinh sống tại Việt Nam, đã viết cuốn “La Société Vietnamienne de 1882 à 1902” (Xã hội Việt Nam từ 1882 tới 1902), trong đó tác giả có trích dẫn những đoạn viết của A. Schreiner và Eliacin Luro như sau: “Quyền gia trưởng đồng nghiã với việc nắm trong tay đủ thứ quyền: quyền sửa dậy, trừng phạt con cái, quyền dựng vợ gả chồng cho chúng không cần theo ý chúng, quyền truất thừa kế và xử dụng tài sản riêng của con cái.”

“Đối lại, vai trò của người con trai là bảo đảm việc chăm lo, cung cấp lương thực cho cha mẹ, vâng lời cha mẹ trong mọi sự, chấp nhận sự sửa dậy của cha mẹ với lòng biết ơn, tỏ lòng tôn kính và ngay cả việc phụng thờ cha mẹ. Thiếu bổn phận về đức hiếu sẽ phải chịu hình phạt nặng nề”.(5)

Tuy có nhiều quyền hành như vậy, nhưng cha mẹ Việt Nam lại rất yêu thương con cái, không ích kỷ và không từ chối bất cứ một gánh nặng nào do con cái gây nên: “Người ta không bao giờ thấy một người Việt Nam than phiền là có qúa nhiều con, họ coi việc có thật nhiều con là một ân huệ lớn … Người ta không bao giờ thấy cha mẹ vứt bỏ con, như ở Trung Hoa, vì là con gái mà người ta không muốn có. Đối với những đứa trẻ bị khuyết tật bẩm sinh, người ta than phiền về chúng, tỏ lòng thương hại chúng và rồi người ta vẫn nuôi nấng chúng như những đứa con khác”.(J. Silvestre trong “L’Empire d’Annam”)(6).

Có thể nói đạo hiếu với cha mẹ, nhất là quyền hành của người cha, có ảnh hưởng từ quan niệm phụ hệ và “Tam Tòng” của đạo Khổng, nhưng chắc chắn cũng có ảnh hưởng từ đạo thờ kính tổ tiên, “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Tinh thần gia đình với tất cả những hệ qủa của nó là nét nổi bật nhất trong nếp sống của người Việt Nam. Dù thời thế và hoàn cảnh có thay đổi, dù cách đối xử giữa những người trong gia đình không còn giống hẳn như xưa, tình liên đới gia đình của người Việt Nam vẫn còn chặt chẽ. Đôi khi nó là một gánh nặng nhưng luôn luôn là một nguồn hạnh phúc.

b – Tinh thần làng xã: Sau gia đình, làng xã là không gian và môi trường sinh sống trực tiếp của người Việt, ở đó họ sống với nhau như một đại gia đình, đôi khi có cùng nguồn gốc tổ tiên, và luôn luôn có cùng một thần thánh để phụng thờ: thờ thành hoàng tại đình làng, thờ Phật tại Chùa làng và sau này thờ Thiên Chúa tại nhà thờ làng. Dân làng sống với truyền thống và luật lệ riêng của làng. Họ sống tự túc và độc lập như trong một quốc gia nhỏ. Làng là nơi họ sinh ra, lớn lên, làm việc, dưỡng già và cuối cùng về với tổ tiên, nên không ai muốn bỏ làng đi làm ăn nơi khác. Hiện tượng đô thị hóa chỉ xảy ra từ khi người Tây phương đến Việt Nam. Dù vậy, dân quê có bỏ làng lên tỉnh làm ăn vẫn nhớ về làng, vẫn giữ liên hệ chặt chẽ với làng và vẫn nuôi ước mơ “áo gấm về làng” khi làm ăn khá giả. Đó là lý do khiến người Việt Nam thiếu lưu động tính (mobility), không chịu phiêu lưu đi làm ăn xa để thử thời vận và học hỏi những điều hay, lạ ở những phương trời khác. Việc cố bám lấy làng xã đã thay đổi nhiều trong thời đại chúng ta, nhưng tấm lòng quyến luyến với nơi chôn nhau cắt rốn, tình liên đới với người cùng quê vẫn còn nặng, nên những người phải xa quê hương đã mang cả làng cả nước đi theo.

c – Ý niệm quốc gia: Ý niệm quốc gia của người Việt được nói tới nhiều nhất là tinh thần chống ngoại xâm để bảo vệ đất nước. Qủa thật dân tộc Việt Nam là một dân tộc có qúa nhiều gian nan trong việc bảo tồn văn hóa và đất sống của mình. Ngay từ buổi sơ khai của lịch sử, Viêm tộc (còn gọi là Miêu tộc) trọng văn đã bị Hán tộc trọng võ chiếm đất đai, chiếm luôn cả văn hóa tư tưởng và văn minh trồng cấy. Khi kéo nhau về phương Nam, thu nhỏ đất nước trong cương vực Hoa Nam và lãnh thổ miền Bắc và Bắc Trung Việt, dân tộc Việt vẫn phải liên tiếp chiến đấu gian khổ để chống tham vọng xâm lăng và đồng hóa của kẻ thù phương Bắc, cũng như sự quấy nhiễu biên giới ở phương Nam. Ở thế “cùng tắc biến”, dân Việt bắt buộc phải cầm gươm dáo để chống cự những đạo quân xâm lăng hùng mạnh. Thua có, thắng có, nhưng nhờ nước mắt, mồ hôi và xương máu đổ ra, họ vẫn giữ được phần đất của ông cha để lại, bảo vệ được nền độc lập, nhất là duy trì truyền thống văn hóa riêng của mình. Việc mở rộng lãnh thổ xuống phiá Nam và Tây Nam cũng là một nhu cầu, trước là để bình định và phát triển, sau là phải mở rộng hậu phương để có tiềm năng đương đầu với những làn sóng xâm lăng từ phương Bắc. Phiá Tây bị dẫy Trường Sơn chặn lối. Phiá Đông là biển, ranh giới thiên nhiên không thể thay đổi. Khi cần phát triển hay rút lui, chỉ còn con đường duy nhất là mở xuống phiá Nam cho tới tận mũi Cà Mau. Sau đó nếu có chuyện gì xảy ra thì chỉ còn cách chạy ra biển. Đó là trường hợp của con cháu nhà Lý khi bị nhà Trần cướp ngôi và trường hợp của người dân miền Nam sau ngày 30-4-1975. Ngoài lý do sinh tồn, nỗ lực chống xâm lăng và chống văn hóa “phi Việt” cũng nằm trong truyền thống bảo vệ di sản của tổ tiên, giữ gìn “quê cha đất tổ” , bảo tồn giòng giống, thể hiện tình đoàn kết, liên đới “máu chảy ruột mềm”. Chính vì phải liều thân vào chỗ chết, dân Việt đã tìm ra đường sống.

Chống ngoại xâm thì hăng hái như thế, nhưng chống áp bức do những người cai trị đồng chủng áp đặt thì hầu như không có. Ngoài những cuộc “làm giặc” lẻ tẻ với chiều kích khiêm nhượng, không có một cuộc “cách mạng” đúng nghiã nào xuất phát từ nhân dân để lật đổ một chính quyền bạo ngược và thiết lập một chính quyền khác đem lại hạnh phúc, ấm no hơn. Lịch sử nội chiến của Việt Nam đều là những cuộc dành ngôi, cướp chính quyền giữa các giòng họ (hay đảng phái) để sau đó lại thiết lập một triều đại mới thường hà khắc không kém, nhiều khi còn tệ hơn triều đại cũ. Có lẽ vì ảnh hưởng của Khổng Nho qúa nặng nên người chiếm được quyền hành được coi như “Trời tuyển” để nắm mệnh Trời, nhân dân có bổn phận phải trung thành theo thuyết “Trung quân, ái quốc”. Quan lại thì nhận quyền trực tiếp từ vua xuống nên được coi như cha mẹ dân (phụ mẫu chi dân). Dân không bằng lòng với vua quan cũng chỉ phản ứng bằng những câu chế diễu để giải tỏa bớt nỗi ấm ức, dùng lời châm chọc như một thứ võ khí của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh. Để che đậy mặc cảm yếu kém này, họ viện dẫn những câu khôn ngoan tán tụng thái độ thúc thủ trước kẻ có quyền: “Dĩ hòa vi qúy”, “An phận thủ thường” … Nhờ đó, những chế độ bạo ngược mới có thể tồn tại cả trong qúa khứ lẫn trong thời hiện đại. Thái độ an phận và chịu đựng cần phải được thay đổi để cải tiến xã hội và để buộc những người cầm quyền phải học một thứ văn hóa mới, đó là tôn trọng quyền của người dân. Ngay Đức Khổng Tử còn phát biểu rằng vua là thuyền, dân là nước, nước có thể nâng thuyền lên, nhưng cũng có thể làm cho thuyền đắm.

3/ Đặc tính của người Việt

- Người Việt giầu tự ái, thích khoe khoang: Tự ái cá nhân và tự ái gia đình rất nặng, ai “làm mất mặt” là phải tìm cách trả đũa cho bằng được. Thích hư danh, thích được xưng tụng, nên có tục mua quan bán tước, mua chức nhiêu, khán ở thôn quê, mua phẩm hàm từ triều đình. Trên bình diện cộng đồng, làng nào, tỉnh nào cũng cho mình là nhất, dân Việt cho mình tài giỏi hơn người. Nhiều dân tộc khác cũng có tật này. Dân tộc Pháp coi họ như “rốn của vũ trụ”. Người Pháp nào cũng muốn có một huy hiệu nhỏ gắn trên ve áo (boutonière), dạng thu nhỏ của một thứ bội tinh. Dân Trung Hoa coi mình là trung tâm của vũ trụ nên mới đặt tên nước là Trung Quốc. Nhiều thói tự ái hão và chuộng hư danh của người Trung Hoa đã được Lỗ Tấn tả trong “Ả Q.” và Bá Dương trong “Người Trung Quốc Xấu Xí”. Điều khác biệt là những dân tộc khác đã ý thức được tật xấu của mình để tìm phương sửa đổi. Dân Việt thì chưa. Một chế độ tồi tệ nhất vẫn còn vỗ ngực tự xưng là “đỉnh cao trí tuệ của loài người”.

- Người Việt nặng tình cảm, thường coi tình nặng hơn lý. Sự đối xử giữa người với người không cân đo bằng quyền lợi cho bằng tình nghiã và sự tử tế với nhau. Tình cảm làm lệch cán cân suy nghĩ,“Thương nhau cau bẩy bổ ba. Ghét nhau cau bẩy bổ ra làm mười”. Từ đặc tính nặng tình cảm, người Việt có lòng biết ơn rất sâu đậm và lâu dài với bất cứ ai làm ơn cho mình, dù ơn lớn, dù ơn nhỏ.

- Người Việt rất đa tình: Đa tình là thói thường của mọi giống người. Điều khác biệt là người Việt tỏ tình và nói về tình ái một cách rất tế nhị, văn hoa. Không nói trực tiếp, thẳng thừng, nhưng nói một cách gián tiếp, vòng vo, đầy ngụ ý. Nhiều khi không cần diễn tả ồn ào bằng lời, nhưng bằng những cử chỉ kín đáo, bằng những hành động không lời để biểu lộ tình yêu.

Tình yêu nam nữ là sự kết hợp âm dương, được nói tới trong hai quẻ Hàm, Hằng thuộc phần Hạ Kinh của Kinh Dịch. Hàm là ve: ve gái hay ve trai. Hằng là ở với nhau mãi mãi. Nét sinh động của văn hóa Việt nằm ở trạng thái lưỡng tính, lưỡng phân, lưỡng hợp, thứ gì cũng có cặp đôi khác nhau nhưng quấn vào nhau để bổ túc cho nhau: rồng với tiên, trời với đất, non với nước, đông với nam, trai với gái…(7). Ngay trong lối tỏ tình “cao cấp” bằng những điệu hát đối, quan họ, trống quân… cũng thể hiện tính cách lưỡng phân, lưỡng hợp của nguyên lý âm dương. Như vậy tính đa tình rất thích hợp với lẽ tự nhiên của mọi loài trong vũ trụ. Điều khác biệt là người Việt đã nâng tính đa tình lên một trình độ văn hóa cao hơn và có lối tỏ tình văn hoa và tinh tế hơn.

- Người Việt có tính hài hước, cái gì cũng bỡn cợt được, chuyện gì cũng cười được. Đề tài cười cợt thường là những cái rởm đời của các thành phần khác nhau trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ, quan quyền và người tu hành. Cười phụ nữ thiếu đoan trang để đề cao tiết hạnh. Cười quan quyền để chống tham quan ô lại. Cười các nhà tu hành để tố giác những phần tử đạo đức giả. Vì thế tiếng cười của người Việt Nam ngoài việc biểu tỏ tính hóm hỉnh, yêu đời, còn mang ý nghiã luân lý: muốn sửa đổi con người và xã hội.

- Người Việt có tính thực dụng, tức là biết chấp nhận và thích ứng với thực tại. Thực dụng là không đòi phải có những điều kiện đầy đủ mới hành động, không khoanh tay thúc thủ trước những khó khăn. Về phương diện cá nhân, thực dụng là chấp nhận cái cụ thể tương đối, dù có chịu phần thiệt, miễn không bị hỏng việc:

Méo mó có hơn không.

Chín bỏ làm mười.

Ai nhất thì tôi thứ nhì

Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba.

Về phương diện tập thể, thực dụng là uyển chuyển, quyền biến. Khi thua và bị mất chủ quyền thì phải nhẫn nhục chịu đựng để chờ thời cơ khôi phục, phải bắt chước theo kẻ mạnh để sống nhưng vẫn âm thầm bảo vệ những tinh túy riêng của mình và làm cho nó phong phú thêm bằng việc gạn lọc lấy cái hay của người. Khi thắng không kiêu căng tự mãn, vẫn tỏ lòng thần phục thế lực có thể tái xâm lăng mình ở phương Bắc và vỗ về những kẻ có thể quấy phá mình ở phương Nam. Khi gặp hoàn cảnh hầu như tuyệt vọng vẫn nghiến răng chịu đựng và phấn đấu để từ số không mà làm nên việc lớn. Đó là trường hợp con cháu nhà Lý, những “thuyền nhân” đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Vào năm 1225, hoàng tử Lý Long Tường, con thứ ba của vua Lý Anh Tông, đã dẫn gia đình và một số người trong hoàng tộc tìm đường chạy sang Cao Ly để tránh sự tàn sát của nhà Trần. Họ đã gây dựng lại cuộc đời ở đó, đã trở thành học gỉa, tướng lãnh, có người làm tới chức tể tướng (thủ tướng cầm đầu nội các) để góp phần xây dựng quê hương thứ hai, nhưng vẫn không quên nguồn gốc. Bẩy thế kỷ sau họ còn tìm đường trở về đất tổ để cúng lậy tổ tiên. Đó là trường hợp hàng triệu thuyền nhân của thế kỷ 20, phải bỏ nước ra đi với hai bàn tay trắng, bị xua đuổi, cướp, hiếp, nhưng đã hội nhập thành công nơi xứ người, nuôi dậy con cái thành những chuyên viên, trí thức có phẩm chất hàng đầu trên thế giới, lại còn gửi của về giúp đỡ thân nhân, bạn bè, đồng bào nghèo khổ tại quê nhà mỗi năm hàng tỷ Mỹ kim. Như vậy, thực dụng, quyền biến phải đi đôi với chịu đựng, kiên nhẫn và siêng năng, những đức tính cần thiết để thích ứng và cải đổi hoàn cảnh.

Khi nêu những đặc tính của người Việt, chúng tôi không muốn phân biệt tính tốt, tính xấu để khen, chê. Chúng tôi chỉ muốn nêu lên những đặc tính nổi bật được nói tới nhiều trong văn chương truyền khẩu. Chính những đặc tính này đã làm nên cá tính dân tộc. Chúng tôi cũng không kể những tính khác như chia rẽ, giỏi bắt chước nhưng kém phát minh, ham chuộng bằng cấp v.v… vì chúng không phải là đặc tính trường cửu của dân tộc Việt. Chúng là cách đối xử thực dụng của người Việt khi gặp hoàn cảnh đòi hỏi phải hành động như thế. Chia rẽ vì phải thủ thân và bảo vệ gia đình, giòng tộc, phe phái trước cảnh nồi da xáo thịt, tranh dành quyền lực, phân chia Nam Bắc, giết nhau vì ý thức hệ đã xảy ra từ mấy trăm năm nay. Giỏi bắt chước nhưng kém phát minh vì chính những người lãnh đạo quốc gia chỉ biết một đường theo Tống Nho suốt hai ngàn năm, rồi lại theo chủ thuyết Mác-Lê, Mao Trạch Đông. Ham chuộng bằng cấp vì cần có nó để thay đổi hoàn cảnh và địa vị xã hội, xưa cũng như nay. Đó là thực dụng, thích ứng, không có gì là đặc tính văn hóa của dân Việt. Nếu coi đó là những điều phải vượt qua, chúng ta cần học và hành những tập quán mới:

Chấp nhận khác biệt, tôn trọng ý kiến của người khác dù mình không đồng ý, phục tùng ý kiến của đa số được phát biểu một cách tự do. Khi biết “Hòa nhi bất đồng”, dung hòa những ý kiến khác nhau để chỉ nhắm mục tiêu chung, chia rẽ sẽ giảm, dù không thể biến hết.

Học để mở mang kiến thức, đóng góp vào kho tàng hiểu biết và tiến bộ của nhân loại, tiền bạc, danh vọng sẽ tự động đến theo. Không nên học chỉ để kiếm bằng cấp, lo“vinh thân phì gia” , làm phương tiện để đè đầu cưỡi cổ người khác.

Bắt chước cái hay của người để từ đó tìm ra cái mới. Phải có tinh thần cởi mở và khai phóng, không thể lúc nào cũng chỉ làm theo “Khổng Tử viết”, Các Mác viết, Bác Hồ hay Bác Mao viết.

Đối xử với nhau có lý, có tình, nhưng luôn tôn trọng luật pháp và sự công bằng. Điều này phải được áp dụng cho mọi thành phần trong xã hội, nhất là thành phần lãnh đạo.

Tới đây, những câu hỏi ở phần đầu lại được nêu ra: Nói một cách cụ thể, văn hóa Việt Nam có những đặc tính gì? Thế nào là cái nhìn khác về văn hóa Việt Nam?

Nói tới văn hóa là nói tới con người vì văn hóa là cách sống, cách nghĩ, cách hành động của con người. Con người Việt Nam là con người có văn hóa, đã bước ra khỏi tình trạng sơ khai từ nhiều ngàn năm trước, để xây dựng cho mình một đời sống tinh thần và vật chất khả quan, đáng sống:

Người Việt hữu thần, có đời sống tâm linh phong phú, có tinh thần khoan dung tôn giáo. Người Việt thờ kính, nhớ ơn tổ tiên và các anh hùng dân tộc.

Người Việt có tinh thần nhân bản, tôn trọng sự sống, tôn trọng con người, nhưng biết đặt quyền lợi của tập thể trên quyền lợi cá nhân.

Người Việt có tình liên đới gia đình rất chặt chẽ, biến gia đình thành nơi nương tựa, bến bình an cho mọi thành phần trong gia đình, nơi đó con cái hiếu kính cha mẹ, anh chị em hòa thuận, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau.

Người Việt chung thủy và hy sinh trong đời sống vợ chồng. Địa vị người phụ nữ Việt Nam được nâng cao dù dưới ảnh hưởng trọng nam khinh nữ của Khổng Nho.

Người Việt nặng tình làng xã, quê hương nghiã hẹp, và trung thành với đất nước, quê hương nghiã rộng, sẵng sàng hy sinh để bảo vệ quê cha đất tổ, nhưng lại có thái độ thúc thủ trước những người cai trị bản xứ, dù họ hà khắc.

Người Việt giầu tình cảm, đối xử với nhau bằng tình hơn lý.

Người Việt đa tình nhưng biết biểu lộ tình yêu một cách văn hoa và tế nhị, biết vun trồng tình yêu trong vòng lễ giáo.

Người Việt có tính hài hước, cười cợt đủ người, đủ việc, nhưng nụ cười có mang ẩn ý luân lý, răn đời.

Người Việt có tính thực dụng, biết thích ứng với hoàn cảnh để thay đổi hoàn cảnh, biết chấp nhận cái tương đối trong khi chờ đợi cái tuyệt đối, biết uyển chuyển và quyền biến khi phải giải quyết những khó khăn.

Người Việt trọng văn hơn võ, có tinh thần trọng học và có tâm hồn thi sĩ.

Đó là những điều tóm tắt để giúp dễ hiểu, dễ nhớ. Thật ra trong cuộc đời muôn mặt, những đặc tính trên được thể hiện dưới muôn hình vạn trạng. Văn hóa Việt Nam có những điểm độc đáo riêng, nhưng cũng có những điểm tương đồng với văn hóa của các dân tộc khác, nói lên tính phổ quát của gia đình nhân loại.

Về câu hỏi đâu là cái nhìn khác? Xin trả lời: chúng tôi không nhìn giòng chẩy của văn hóa Việt ngừng lại ở thời điểm 1945, mà tiếp tục theo dõi những khúc ngoặt, những cơn sóng gió kéo dài cho tới ngày nay đê nhìn ra những hậu qủa mà cuộc “cách mạng” 1945 và chiến tranh gây ra cho văn hóa Việt Nam. Sau đó chúng tôi tìm hiểu văn hóa Việt Nam qua ngôn từ. Nếu muốn tìm hiểu tín ngưỡng, phong tục, luật lệ, tổ chức và sinh hoạt của xã hội Việt Nam qua sách vở, chúng ta gặp phải một khó khăn lớn: sách vở nghiên cứu về loại này của người xưa rất nghèo nàn. Ngoài những cuốn sử biên niên hay địa dư chí được viết bằng chữ Nho theo lệnh của nhà vua, các học giả của ta chỉ thích làm văn, làm thơ vịnh cảnh, gửi gấm tâm tình, thù tạc với bạn bè. Không có tác phẩm nào có cái nhìn nhất quán về văn hóa của dân tộc, dù chỉ giới hạn trong thời tác giả sống. Văn học dân gian đã làm thay công việc này. Đó là thứ văn học truyền khẩu không được ghi trên bia, trong sách, nhưng được gìn giữ trong ký ức tập thể và phát ra qua miệng của người dân, từ thế hệ này qua thế hệ khác:

Trăm năm bia đá thì mòn

Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Căn cứ vào văn học dân gian để tìm ra những nét chính của văn hóa Việt Nam. Đó là cách nhìn khác. Có thể cách nhìn của chúng tôi còn bất cập hay thiên lệch, nhưng nguyên tắc ngôn từ phản ảnh văn hóa đã được mọi người mặc nhiên chấp nhận. Giáo sư Trần Quốc Vượng cũng viết: “Nét trội của nền văn hóa Việt Nam truyền thống là văn hóa ngôn từ; nét trội của thức tư duy Việt Nam là duy cảm, duy tình, chứ không phải là duy lý như phương Tây để phát triển khoa học kỹ thuật, cũng không phải là duy chí như Trung Hoa để phát triển các hệ thống chính trị-xã hội, cũng không phải là duy linh như Ấn độ để phát triển các hệ thống siêu hình tôn giáo. Do trội về duy cảm mà phát triển mạnh về THƠ (cả một dân tộc trữ tình và làm thơ)” (8)

Văn hóa Việt Nam được thể hiện bằng thơ, thơ viết và nhất là thơ nói. Nhiều người cho rằng nếu chỉ có thế thì qúa nghèo nàn. Họ than phiền dân tộc Việt Nam không có những công trình văn hóa lớn: đền đài, cung điện, tôn giáo, triết thuyết, những nhà tư tưởng lớn và những nhà văn, nhà thơ tiếng tăm vượt khỏi biên giới quốc gia. Thật ra có bao nhiêu dân tộc trên thế giới có những nền văn hóa rực rỡ như vậy? Ngay dù có, những dân tộc đó có hạnh phúc không? Hãy nhìn Trung Hoa. Những hôn quân bạo chúa như Kiệt, Trụ, Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Đông... xuất hiện dài dài suốt giòng lịch sử. Dân Trung Hoa có văn hóa cao mà suốt đời làm nô lệ, bị những người cầm quyền đối xử như con sâu cái kiến. Hết “phần thư” lại đến “lao cải”. Hết “bước tiến nhẩy vọt” lại đến “cách mạng văn hóa”. Vừa hoan hô xong đã phải đả đảo tức thì. Văn hóa Tây phương chỉ phát triển mạnh từ thời trung cổ, nhưng chiến tranh, chế độ nông nô, lãnh chúa, hôn quân luôn làm cho dân tình cực khổ. Hai cuộc đại chiến trong thế kỷ 20 tàn sát hàng triệu sinh linh đều bộc phát ở Âu châu, nơi phát sinh những tư tưởng tự do, bình đẳng, nhân ái. Lý thuyết và các chế độ cộng sản cũng ra đời và gây thảm họa ở Âu châu trước khi lan đi tàn phá các châu khác. Vậy những nét rực rỡ bề ngoài của văn hóa có ích lợi gì nếu không phục vụ con người, làm cho con người hạnh phúc hơn?

Như vậy văn hóa không vụ hình thức, không phải là món hàng để khoe khoang, trưng bầy, nhưng chính là cách sống, khung cảnh sống, làm cho con người cảm thấy thoải mái và hạnh phúc trong đó, như cá lội tung tăng trong làn nước thân quen. Vì sự sống biến chuyển không ngừng, nên văn hóa phải chuyển và mở. Chuyển nhưng không mất gốc. Mở với các nền văn hóa khác nhưng vẫn giữ được bản chất của mình. Để giúp cho văn hóa chuyển và mở theo chiều hướng tốt đẹp, cần có sự đóng góp của kinh tế và sự hướng dẫn của giáo dục. Khi no cơm ấm áo, người ta mới nghĩ tới những chuyện khác cao hơn. “Phú qúy” mới “sinh lễ nghiã”, còn “bần hàn” thì “sinh đạo tặc”. Tuy nhiên, ở thái cực khác, ham phú qúy qúa cũng có thể làm xao lãng những giá trị tinh thần. Vì vậy luôn luôn phải có giáo dục đi kèm. Giáo dục có khai phóng mới giúp trí tuệ mở mang và giúp con người tìm đường tiến lên. Một khi giáo dục chỉ nhằm “ngu dân”, chỉ cho thấy một chiều thì chỉ sản xuất được những con người thiển cận, những tay sai ngoan ngoãn. Kinh tế và giáo dục nằm trong chính sách quốc gia, cần những quyết định chính trị. Vậy những người nắm quyền chính trị phải có cái nhìn văn hóa để đề ra và thi hành những chính sách thích hợp và tiến bộ. Nói theo kiểu xưa thì vai trò của ông thầy và ông quan rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa. Người dân không khoán trắng việc làm văn hóa cho chính quyền, không muốn chính quyền áp đặt một đường lối văn hóa. Nhưng một khi dân muốn làm mà chính quyền cấm đoán, dân muốn mở mà chính quyền muốn đóng, dân muốn tiến mà chính quyền muốn níu lại, tất nhiên văn hóa sẽ bị tổn thương. Vai trò của chính quyền là phải hỗ trợ cho văn hóa được tự do chảy theo giòng tự nhiên và hướng về một chân trời tươi đẹp, nhiều hứa hẹn.

Hoàn cảnh của đất nước không cho phép chúng ta chỉ thảo luận vêvăn hóa thuần túy. Văn hóa Việt Nam trong lúc này có liên hệ tới những vấn đề bức xúc của đất nước. Một số đề tài có tính cách cấp bách đòi hỏi những người thuộc thế hệ này phải tìm hiểu, rọi ánh sáng vào những góc còn tối, đưa ra những câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi như :

Làm sao đánh giá đúng sự đóng góp của người Việt “quốc gia” và của miền Nam Việt Nam vào những thành tựu văn hóa của đất nước từ 1950 đến nay?

Làm thế nào để có giao lưu văn hóa một cách tự do và tự nhiên giữa người Việt trong nước và người Việt ngoài nước?

Làm cách nào để xóa bỏ những hậu qủa văn hóa mà “cách mạng” và chiến tranh đã gây nên?

Làm thế nào để dung hòa giữa truyền thống và sự hội nhập văn hóa?

Phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa có những xung khắc nào?

Khoảng cách văn hóa giữa các thế hệ già, trẻ, giữa trong và ngoài nước có thể vượt qua được không? Bằng cách nào? v.v…

Chúng tôi thành thật tin rằng chỉ có sự cộng tác của người Việt khắp nơi, từ trong ra ngoài, mới có thể tìm được những giải đáp cho những vấn đề trên. Sự cộng tác phải dựa trên thành tâm và bình đẳng, không bị chính trị chi phối, không bị qúa khứ ám ảnh. Tuy nhiên chúng ta phải có thái độ không sợ sự thật, không tránh né sự thật và dám nói lên sự thật. Đó không phải là khơi lại những vết thương cũ, dù những vết thương đó chưa lành hẳn mà đã có thêm những vết thương mới. Chỉ căn cứ vào sự thật mới có thể tìm được những giải pháp đúng đắn. Có nhiều cách nhìn và nói sự thật. Nếu chỉ với mục đích bươi móc và kết án thì sẽ càng xé rách những vết thương chưa kịp ăn da non. Nếu tìm kiếm sự thật bằng thái độ khách quan, khoan dung, hòa giải thì cuối cùng sự thật sẽ có thể giải phóng chúng ta.

Chúng ta cứ lay hoay đi tìm “Hồn Dân Tộc” để làm chất keo gắn bó chúng ta với nhau. Đã là hồn thì vô hình, không thấy được. Chi bằng chúng ta hãy nhìn nó một cách cụ thể: đó là ngôn ngữ cùng xử dụng, là giòng giống, tổ tiên cùng chung gốc, là những di sản cùng chia sẻ, là cách sống và những tình cảm quen thuộc gặp gỡ trong sinh hoạt đời thường, là lịch sử chung để cùng hãnh diện hay tủi nhục, là ước vọng chung giữ gìn di sản và gầy dựng cho giống nòi được trường tồn và tiến bộ về mọi mặt. Trên căn bản đó chúng ta sẽ dễ nhận ra nhau và dễ tìm đồng thuận trong việc bỏ quên những xung khắc qúa khứ để cùng tiến về tương lai.

GHI CHÚ

Xem VŨ NGỌC KHÁNH, Tiếp Cận Kho Tàng Folklore Việt Nam, tr. 64. Nhà Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc. Việt Nam, 1999.

Xem PHẠM CAO DƯƠNG, Thực Trạng Của Giới Nông Dân Việt Nam Dưới Thời Pháp Thuộc, các tr. 54, 55, 56, 57. Khai Trí xuất bản tại Sài Gòn 1967. Tái bản tại Hoa Kỳ 1984.

“Chính quyền thuộc địa đã kêu gọi và nâng đỡ triệt để những thực dân tư bản chính quốc bỏ vốn ra đầu tư vào việc khai thác những phần đất còn bỏ hoang ở Nam kỳ… Người Pháp cũng cho phép người Việt được dự phần vào việc điều chỉnh những nhượng địa vào năm 1874 và sau này vào việc áp dụng nghị định ngày 22-8-1882 tổ chức lại chế độ nhượng địa trên 10 mẫu tây. Hậu qủa là vào năm 1890, 100 nhượng địa với diện tích 4,647 mẫu tây đã được nhường cho người Pháp… Cuối cùng năm 1939, diện tích đất được đem nhường cho người pháp ở Nam kỳ lên tới 610,000 mẫu tây”. Ấy là chưa kể hàng trăm ngàn mẫu tây khác, truất hữu của nông dân chạy giặc, đã được điều chỉnh cho người Việt bản xứ có liên hệ tốt với người Pháp. Từ đó mới có những đại điền chủ trên đất nước ta.

(3) Xem KIM ĐỊNH, Văn Lang Vũ Bộ, các trang 10, 202. H.T. Kelton xuất bản tại Hoa Kỳ, không đề năm.

Xem NHẤT THANH VŨ VĂN KHIẾU, Đất Lề Quê Thói, tr. 261. Cơ Sở Xuất Bản Đại Nam. Sài Gòn 1968. Tái bản tại Hoa Kỳ không đề năm.

Xem NGUYỄN VĂN PHONG, La Société Vietnamienne de 1882 à 1902, tr. 67. Presses Universitaires de Paris, 1971:

“Paternité devient synonyme de détenteur des droits: droit de corriger, de châtier les enfants, de les marier même contre leur gré, de les déshériter, de disposer de ses biens propres ...”

“En retour, le rôle du fils consistait à assurer l’entretien, les aliments à ses parents, à leur obéir en tout, accepter leurs corrections avec reconnaissance, à leur montrer du respect et même du culte. Une sanction sévère redresse les manquements à ces devoirs de piété filiale”. Xem NGUYỄN VĂN PHONG, sđd, tr.71

“On ne verra jamais un Annamite se plaindre de ce qu’il a trop d’enfants, il regarde comme une grande bénédiction d’en avoir le plus possible… On ne verra jamais les parents rejeter leur enfant, comme en Chine, parce que c’est une fille don’t ils ne veulent pas. Pour les petits estropiés en naissant, on les plaint, on en a pitié et on les élève comme les autres”.(J. Silvestre dans “L’Empire d’Annam”).

Xem KIM ĐỊNH, Văn Lang Vũ Bộ, sđd, các tr. 9, 10, 11.

TRẦN QUỐC VƯỢNG, Trong Cõi, sđd, tr.215.

Last modified: 07/15/07

  • Nguồn :http://e-cadao.com/tieuluan/motcainhinkhacvevhvn.htm