TỔ QUỐC DANH DỰ TRÁCH NHIỆM

TỔ QUỐC lâm nguy nguyện dấn thân
Phục hồi DANH DỰ trả toàn dân
Mọi người TRÁCH NHIỆM chung vai gánh
Dân Chủ, Tự Do quyết đạt thành!


NÓI VÀ LÀM


Xét người và nhất là xét những con người của lịch sử thì phải xét cả “Lời Nói và Việc Làm “ cuả người đó.Tục ngữ có câu :”Ngôn dị ,hành nan”tức là :nới thì dể ,mà làm thì khó. Ðôi khi còn chưa đủ,còn phải xét cả kết quả,hậu quả cuả những việc làm ấy có đem “Lợi Ích hay Thất Bại” cho Quốc Gia ,Dân Tộc nửa thì mới đủ.

Chúng ta thử xét qua một số nhân vật lịch sử thế giới thì sẽ có nhiều kinh nghiệm thực tế cho việc nhận định những con người lịch sử.

http://www.avsnonline.net/library/ebooks/vn/SuKy/pn_03.htm Tần Thủy Hoàng bản kỷ

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A7n_Th%E1%BB%A7y_Ho%C3%A0ng Tần Thủy Hoàng

1-Tần Thủy Hoàng (秦始皇, 259 TCN đến 210 TCN) được xem là Hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa, vì đã thống nhất các nước phân tán để lập nên một đế quốc rộng lớn



Tần Thuỷ Hoàng 259 TCN đến 210 TCN Vạn Lý Trường Thành

Sau khi thôn tính sáu nước (lục quốc) Tần Thủy Hoàng đã canh tân ,xây dựng ,cũng cố triều đại của mình, đồng thời có công thống nhất các hệ thống văn tự,tư tưởng, đo lường , mở mang đường sá nối liền giao thông cho cả nước Trung Hoa rộng lớn.Thực hiện nhiều công trình kiến trúc đồ sộ mà hàng ngàn năm sau vẫn còn làm cho cả thế giới ngưởng phục đó là :”Vạn Lý Trường Thành”,ngoài ra Tần Thuỷ Hoàng còn có công mở rộng bờ cỏi Trung Hoa,thiết lập Trung Ương tập quyền , sửa đổi thống nhất luật pháp ,hành chánh,cải tổ nông nghiệp (làm cho Tần trở nên hùng mạnh nhất vào thời đó ). Nếu xét về công lao đóng góp cho Trung Quốc thì phải kể công lao của vị Hoàng đế nầy thuộc vào bậc nhất trong suốt lịch sử 5 ngàn năm của đất nước TQ. Ông tự cho mình có công khai sáng triều đại (Tần )và còn mong muốn triều đại của mình sẽ kéo dài hàng mấy trăm năm sau.

Nhưng nếu chỉ xét về công lao đóng góp mà không xét về các mặt tác hại của chính sách cai trị của ông (Nhà Tần chỉ tồn tại được 15 năm (221 - 206 TCN) với 3 đời vua.) thì chúng ta sẽ không hiểu tại sao với công lao ,sự nghiệp vĩ đại như thế cho nước Tàu mà triều đại của ông lại sớm suy tàn và bị nhân dân TQ xoá bỏ không thương tiếc và còn kết án gay gắt tội ác nhà Tần cho mãi hàng ngàn năm sau như 1 tấm gương cho hậu thế soi chung!

Có nhiều nguyên nhân dẩn đ ến sự suy tàn nhanh chóng chế độ c ủa Tần Thuỷ Hòang:

a-Th ống nh ất đ ư ợc đ ất n ư ớc nh ưng kh ông kh ông thu ph ục đ ư ợc l òng người :

Ðể thong nhất được Trung Quốc Tần Thuỷ Hoàng đã huy động sức người ,cuả cải trong suốt 35 năm chiế n tranh gian khổ (từ năm 256 đến 221 TCN ),nhưng sau khi đã thống nhất đất nước rộng lớn thay vì dùng chính sách khoan dung để lấy lòng người, nhà Tần lại tăng cường pháp trị, lấy sự hà khắc để đề phòng sự chống đối của thiên hạ. “Ông vua có thể lấy thiên hạ trên lưng ngựa nhưng không thể cai trị thiên hạ trên lưng ngựa". Câu đó rất đúng với nhà Tần. Do đó, ngoài cái thù mất nước chưa nguôi ngoai, người dân 6 nước còn lại đều căm giận nhà Tần lên gấp bội. Nhằm bẻ gẫy quyền lực của tầng lớp quý tộc, ông tịch thu đất đai của họ và phân chia chúng cho nông dân. Nhằm tạo thuận lợi cho việc thu thuế, thuế được triều đình thu trực tiếp từ những người nông dân mà không cần qua tay tầng lớp quý tộc.

b -S ự cai tr ị qu á đ ổi t àn ác:

Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách và chôn nho: đốt hết các bản Tứ thư, Ngũ kinh và bách gia chư tử trong dân gian, chỉ giữ lại một bản tàng trữ trong thư viện của triều đình. Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ thì bị kết tội là phản quốc. Có người phải giấu sách vào trong tưởng, có người lại ráng học thuộc lòng thư và kinh để truyền miệng lại đời sau. Tần chỉ muốn nhồi nặn dân chúng thành dễ bảo, có kỷ luật. Tư do tư tưởng, tự do ngôn luận là tội nặng nhất. Người đời sau cho Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa, có nhiều tội ác, đó là: Xây Vạn Lý Trường Thành, xây cung Lương Sơn.xây cung A Phong (hay A Phòng )và xây lăng mộ cho riêng mình.

2- Adolf Hitler:

Cuộc sống của người dân Ðức sau Ðệ Nhất Thế Chiến thật là khốn khó và tủi nhục vì phải trả nợ chiến tranh quá lớn sau khi bại trận .Là một hạ sỹ vô danh tiểu tốt , năm 1920 Adolf Hitler nhảy vào chính trường với lời hứa hẹn là ông sẽ biến nước Ðức thành hùng mạnh,không phải trả chiến phí trong Hoà Ước Versaille,tận diệt tham nhũng,mọi người dân Ðức thảy đếu có việc làm và bánh mì. Hitler đã sử dụng tài hùng biện và sự lừa gạt tinh vi để dân Ðức bầu ông làm Thủ Tướng và sau đó là thủ lĩnh của chế độ độc tài Ðức Quốc Xã năm 1934 . Sau khi nắm được niềm tin của dân Ðức,Hitler dần dần lèo lái nước Ðức vào một cuộc Ðệ Nhị Thế Chiến để thôn tính các nước khác và thực hiện cuộc diệt chũng vĩ đại dân Do Thái .

Nhưng lúc đó người dân Ðức không còn khả năng chận đứng bàn tay độc tài sắt máu của tên đồ tể Hitler mà trước kia họ đã trót bầu hắn lên địa vị lãnh tụ tối cao! Lời hứa của lãnh tụ Hitler và tên độc tài Hitler khác xa một trời một vực.Vì vậy dân Ðức phải trả một giá quá cao cho hàng chục triệu sinh mạng và tài sản cho một ý đồ ngông cuồng thôn tính thế giới .Sau lần bại trận thứ hai nầy nước Ðức còn bị 2 cường quốc là Mỹ và Liên Sô chia đôi và đạt căn cứ quân sự nhằm kiểm soát chế tài .

Xin xem phần lý lịch và sự nghiệp của Hitler dưới đây trong Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia:

-http://vi.wikipedia.org/wiki/Hitler#Vi.E1.BB.87c_l.C3.A0m_.C4.91i_.C4.91.C3.B4i_v.E1.BB.9Bi_l.E1.BB.9Di_n.C3.B3i



Adofd Hitler(phải)và Mussolini Quân Ðội của Ðức Quốc Xả


“Adolf Hitler (sinh 20 tháng 4 năm 1889 tại Braunau am Inn – tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1945) là chủ tịch Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, viết tắt NSDAP) từ năm 1921, Thủ tướng Đức từ năm 1933, là "Lãnh tụ và Thủ tướng đế quốc" (Führer und Reichskanzler) kiêm nguyên thủ quốc gia nắm quyền Đế quốc Đức kể từ năm 1934.

Những thành tựu của Hitler thật là đáng kể trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và quân sự: a-Ngoại Giao khôn khéo : Hoà ước Versailles năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt Thế chiến thứ Nhất (1914–1918) giữa Đức và các nước Đồng minh. Nội dung Hòa ước được soạn thảo bởi Georges Clemenceau, Thủ tướng nước Pháp, cùng với Hoa Kỳ và Vương quốc Anh – là ba nước thắng trận ;còn Ðức là nước bại trận phải chịu nhiều điều kiện nhục nhả v à bất lợi .Trong hai năm đầu, chiến thuật của Đức Quốc xã là nói chuyện hòa bình, bí mật chuẩn bị chiến tranh, thực hiện chính sách ngoại giao cẩn trọng, tái vũ trang trong bí mật nhằm tránh các nước Đồng Minh viện dẫn Hòa ước Versailles mà chống Đức bằng quân sự. Hitler hùng hục lao vào công việc tái lập Đảng Quốc xã và biến nó thành một tổ chức mà Đức chưa hề thấy từ trước đến giờ.

b-Thành tựu về kinh tế :Sự hồi phục kinh tế của Đức sau chiến tranh là thành tựu nổi bật, mà trong đảng cũng như các nhà kinh tế nước ngoài ca ngợi là phép lạ. Số người thất nghiệp từ 6 triệu năm 1932 giảm còn không đến 1 triệu bốn năm sau. Sản lượng và thu nhập quốc nội tăng gấp đôi trong thời gian 1932-37.

c- Về quân sự, từ quân đội bị Hòa ước Versailles hạn chế ở mức 100.000 người, Hitler tăng quân số lên gấp ba vào cuối năm 1934. Khi phát động tiến công Nga năm 1941, Đức huy động 3,2 triệu quân tiến theo trận tuyến dài 1.600 kilômét.

Trước đó, sau khi quân Đức tràn sang Ba Lan, chỉ trong vòng 48 giờ, Không quân Ba Lan đã bị hủy diệt, phần lớn trong số 500 máy bay hiện đại trúng bom của máy bay Đức trước khi có thể cất cánh. Quân đội Ba Lan tan nát chỉ sau một tuần. Thủ đô Warszawa thất thủ trong vòng 4 tuần.

Ngày 9 tháng 4 năm 1940, Đức đồng loạt tấn công Đan Mạch và Na Uy. Đan Mạch đầu hàng lập tức, còn Na Uy chống cự dằng dai và chỉ đầu hàng 2 tháng sau.

Ngày 10 tháng 5, Đức tấn công Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg. Hà Lan đầu hàng 5 ngày sau và Bỉ cầm cự không tới 3 tuần. Chỉ trong vòng hơn 1 tháng từ lúc vượt biên giới Pháp, quân Đức tiến vào thủ đô Paris.

Đến giữa năm 1942, Đức đã thôn tính khoảng 90% diện tích Tây Âu, chỉ trừ Thụy Điển, Vương quốc Anh, Scotland, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ; còn ở Bắc Phi, Đức đang chiếm đóng Tunisia, Lybia và một phần Ai Cập.”

(Xem chi tiết: Lịch sử quân sự Đức trong Đệ nhị thế chiến. )

Những thủ đoạn lừa lọc của Hitler :

1- Tạo vụ hỏa hoạn ở Tòa nhà Nghị viện:

Vào buổi tối 27 tháng 2 năm 1933, Tòa nhà Nghị viện bị cháy. Có đủ chứng cứ hợp lý cho thấy chính Quốc xã dưới sự chỉ đạo của Hermann Göring đã lên kế hoạch và tạo ra đám cháy nhằm phục vụ mưu đồ chính trị của họ. Một ngày sau vụ cháy, 28 tháng 2, Hitler yêu cầu Tổng thống ký nghị định "Cho việc Bảo vệ Nhân dân và Nhà nước" đình chỉ bảy đoạn trong hiến pháp đảm bảo quyền tự do cá nhân như là "biện pháp phòng vệ chống lại những hành động bạo lực của cộng sản phương hại đến đất nước". Nghị định còn cho phép chính phủ Đế quốc hành xử mọi quyền hạn của các bang khi cần thiết, và áp dụng hình phạt tử hình cho một số tội danh, kể cả tội "làm mất trật tự trị an một cách nghiêm trọng" do người có vũ trang. Thế là Hitler đã có thể bịt miệng đối thủ một cách hợp pháp và bắt giữ họ tùy ý, bằng cách mang hiểm họa của cộng sản ra hù dọa.

2- Giải tán nghiệp đoàn

Để ru ngủ giới nghiệp đoàn trước khi ra tay, chính phủ Quốc xã tuyên bố Ngày Lao động năm 1933 là ngày lễ toàn quốc, được chính thức gọi là "Ngày Lao động Quốc gia", và chuẩn bị chương trình kỷ niệm như thể chưa từng được kỷ niệm trọng thể như thế. Giới lãnh đạo nghiệp đoàn lấy làm cảm kích và hồ hởi cộng tác với chính phủ và đảng nhằm cử hành ngày lễ được thành công. Các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn khắp địa phương được đưa về Berlin, hàng nghìn băng-rôn được giăng ra tuyên dương tình đoàn kết giữa chế độ Quốc xã và công nhân.

Hitler đích thân tiếp đón các đoàn đại biểu công nhân, tuyên bố: "Các anh sẽ thấy câu nói cách mạng chống lại công nhân Đức là sai lầm và thiếu công tâm". Sau đấy, phát biểu trước 100.000 công nhân tụ tập ở sân bay, Hitler hô khẩu hiệu: "Tôn vinh lao động và tôn trọng công nhân!" và hứa rằng sẽ tiến hành kỷ niệm Ngày Lao động để tôn vinh lao động Đức "suốt nhiều thế kỷ".

Ngày 2 tháng 5 năm 1933, các trụ sở nghiệp đoàn trên khắp cả nước bị chiếm đóng, ngân quỹ nghiệp đoàn bị tịch thu, các nghiệp đoàn bị giải tán, và các nhà lãnh đạo bị bắt giữ. Nhiều người bị đánh đập và đưa vào trại tập trung.

Chỉ trong ba tuần, người ta thấy rõ thêm một lời hứa rỗng tuếch của Quốc xã. Hitler ban hành một luật mới chấm dứt việc thương thuyết tập thể, trên thực tế cấm công nhân đình công.

3-Cái chết của Tổng Thống Hindenburg

Ngày 2 tháng 8 năm 1934, Tổng thống Ludwig von Hindenburg qua đời, hưởng thọ 87 tuổi. Theo một luật mới do nội các ban hành ngày hôm trước, hai chức vụ Thủ tướng và Tổng thống được nhập lại làm một, và Adolf Hitler đã nhậm chức lãnh đạo đất nước kiêm Tư lệnh Tối cao Quân lực. Chức vụ Tổng thống bị bãi bỏ; Hitler chính thức là Lãnh tụ và Thủ tướng Đế chế. Quốc xã chính thức loan báo là không thể tìm ra bản di chúc hoặc tuyên cáo nào của Hindenburg, và có thể xem như không có.

Một bản tuyên cáo chính trị của Hindenburg tỏ lộ ý muốn cuối cùng của ông là phục hồi vương triều sau khi ông qua đời, nhưng Hitler giấu đi đoạn này. Một bản văn thứ hai có nội dung đề xuất một người của vương triều Hohenzollern làm tổng thống, nhưng sau chiến tranh người ta không thể tìm lại bản văn này. Có lẽ Hitler đã nhanh chóng thiêu hủy nó. Ngày 19 tháng 8 năm 1934, khoảng 95% cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý, và 90% chấp thuận cho Hitler chiếm mọi quyền lực. Chỉ có 4 triệu rưỡi người Đức có can đảm – hoặc có ước nguyện – nói "Không".

3-Lừa dối Đồng minh:

Khi Hitler lên nắm chính quyền, một trong những việc đầu tiên của ông là gây rối các đối thủ của Đức ở Châu Âu bằng cách kêu gọi giải trừ quân bị, hô hào hòa bình, và để mắt phát hiện điểm yếu của họ. Ngày 17 tháng 5 năm 1933, Hitler đọc bài "Diễn văn Hòa bình" trước Nghị viện. Đây là một trong những bài diễn văn quan trọng nhất trong sự nghiệp của Hitler, một kiệt tác trong nghệ thuật tuyên truyền lừa dối đã khiến người Đức cảm động một cách sâu sắc. Bài diễn văn cũng khiến cho dân Đức đoàn kết sau lưng Hitler và tạo ấn tượng tốt cho thế giới bên ngoài. Hitler tuyên bố:

Đức hoàn toàn sẵn sàng từ bỏ mọi vũ khí tấn công nếu các quốc gia đã vũ trang cũng sẽ phá hủy vũ khí tấn công của họ... Đức cũng rất sẵn sàng giải tán cả quân đội và phá hủy số vũ khí ít ỏi còn lại, nếu các nước láng giềng cũng làm thế... Đức sẵn sàng ký kết bất kỳ hiệp ước bất tương xâm nào, bởi vì Đức không nghĩ đến việc tấn công mà chỉ nghĩ đến tìm kiếm an ninh.

Còn có nhiều điều khác trong bài diễn văn, với ngôn từ có chừng mực và thể hiện lòng khao khát hòa bình. Đức không muốn chiến tranh. Chiến tranh là "sự điên rồ vô bờ bến". Chiến tranh sẽ "làm sụp đổ trật tự xã hội và chính trị hiện giờ". Đức Quốc xã không muốn "Đức hóa" những dân tộc khác.

“Người Pháp, người Ba Lan và những dân tộc khác là láng giềng của chúng tôi, và chúng tôi biết không biến cố nào có thể thay đối thực tế này.”

Có một lời cảnh cáo. Đức đòi hỏi được đối xử bình đẳng với mọi quốc gia khác, đặc biệt là về giải trừ quân bị. Nếu điều này không đạt được, Đức sẽ rút ra khỏi Hội nghị Giải trừ quân bị và Hội Quốc liên.

Lời cảnh cáo chìm trong quên lãng giữa nỗi vui mừng khắp thế giới phương Tây đối với thái độ biết điều bất ngờ của Hitler. Báo chí Anh đăng tải những bài bình luận có thiện cảm với ý tưởng của Hitler. Lời lẽ của nhà độc tài thích bạo động của Quốc xã không phải là đe dọa dữ dằn như người ta e ngại lúc đầu, mà là ngọt ngào và dịu dàng.

Nhưng lời cảnh cáo của Hitler không phải là rỗng tuếch, mà ông làm đúng như những gì đã nói. Khi thấy rõ rằng Đồng Minh cứ khăng khăng về thời gian 8 năm để giải trừ quân bị xuống bằng với mức của Đức, ngày 14 tháng 10 năm 1933, thình lình Hitler loan báo rằng, vì không được các cường quốc ở Geneva đối xử bình đẳng, Đức lập tức rút lui khỏi Hội nghị Giải trừ quân bị và Hội Quốc liên.

Ngày 21 tháng 5 năm 1935, Hitler đọc một bài "Diễn văn Hòa bình" nữa ở Nghị viện – có lẽ là bài diễn văn hùng hồn nhất. Ông trấn an rằng tất cả những gì ông muốn chỉ là hòa bình và cảm thông dựa trên sự bình đẳng cho mọi bên. Ông bác bỏ ý tưởng chiến tranh; đấy là vô nghĩa, vô ích, cũng là điều kinh hoàng.

Những cuộc đổ máu trên lục địa Châu Âu trong ba trăm năm qua không cho thấy có sự thay đổi tương xứng. Chung cuộc Pháp vẫn là Pháp, Đức là Đức, Ba Lan là Ba Lan, Ý vẫn là Ý. Tính tự cao của vương triều, nỗi đam mê chính trị và sự mù quáng ái quốc chẳng đạt được gì nhiều qua những thay đổi chính trị sâu xa với máu chảy thành sông... Những tố chất cơ bản của họ vẫn không đổi. Nếu các quốc gia này chỉ cần mang một phần hy sinh nhỏ nhoi để phục vụ mục đích khôn ngoan hơn, thì thành công sẽ to tát hơn và trường cửu hơn.

Hitler tuyên bố là Đức không hề có ý nghĩ nào về việc thôn tính những dân tộc khác.

Nước Đức Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa mong mỏi hòa bình... cũng vì nhận thức được sự kiện nguyên thủy đơn giản nhất là không có cuộc chiến tranh nào có thể thay đổi khổ đau ở Châu Âu... Hậu quả chủ yếu của mỗi cuộc chiến tranh là hủy hoại tinh hoa của đất nước.... Nước Đức cần hòa bình và đòi hỏi hòa bình!

Hitler luôn nhấn mạnh điểm này. Cuối cùng, ông đưa ra 13 đề xuất cụ thể nhằm duy trì hòa bình, tạo ấn tượng sâu đậm đối với nước Đức và cả Châu Âu. Ông rào đón với lời nhắc nhở:

Đức đã long trọng nhìn nhận và đảm bảo với Pháp đường biên giới... Bỏ qua quá khứ, Đức đã ký kết hiệp ước bất tương xâm với Ba Lan... Chúng tôi sẽ tôn trọng vô điều kiện hiệp ước này... Chúng tôi nhìn nhận Ba Lan là ngôi nhà của một dân tộc to tát và có lòng ái quốc cao độ.

Và đối với Áo:

Đức không có ý định và cũng không mong muốn can thiệp vào nội bộ của Áo, sáp nhập Áo vào Đức, hoặc thống nhất Áo và Đức... Nhật báo có tầm ảnh hưởng rộng nhất nước Anh, tờ Times, hoan nghênh đến mức gần như cuồng nhiệt: "Bài diễn văn hóa ra đúng lý, thẳng thắn và toàn vẹn. Những ai với óc công tâm đều tin rằng chính sách do ông Hitler đưa ra có thể tạo nên một tiền đề tốt để đạt thỏa thuận trọn vẹn với Đức – một nước Đức tự do, bình đẳng và mạnh mẽ thay vì một nước Đức kiệt quệ bị áp đặt hòa bình mười sáu năm trước... Hy vọng rằng bài diễn văn sẽ được mọi phía chấp nhận là lời phát biểu chân thành và có suy xét, thể hiện chính xác những gì đã trình bày." Tờ báo nổi danh này, một trong những vinh quang chính trong ngành báo chí ở Anh, lại đóng vai trò giống như chính phủ Neville Chamberlain trong việc xoa dịu Hitler.

Chỉ trong vòng vài năm sau, những cam kết của Hitler trở nên vô nghĩa: Đức sáp nhập Áo vào Đức, xâm lăng Ba Lan, tấn công Pháp cùng một số nước Tây Âu. Lừa dối Ba Lan

Ba Lan là quốc gia mà người Đức có ác cảm nặng nề nhất. Trong tâm tưởng của người Đức, lỗi lầm gớm ghiếc nhất của Hòa ước Versailles là tách Đông Phổ khỏi phần còn lại của lãnh thổ Đức để sáp nhập vào Ba Lan, tạo nên Hành lang Ba Lan. Hitler thấy rằng trước khi tiêu diệt Ba Lan, cần tách nước này ra khỏi mối liên kết với Pháp. Sách lược ông đang theo đuổi có nhiều lợi điểm nhất thời. Bằng cách từ bỏ sử dụng vũ lực, ông có thể củng cố làn sóng truyên truyền cho hòa bình và xóa đi nỗi nghi ngại ở cả hai vùng Tây Âu và Đông Âu. Bằng cách mời Ba Lan đàm phán trực tiếp, ông có thể né tránh Hội Quốc liên và làm suy yếu chức năng của tổ chức này. Và ông tấn công vào ý niệm của Hội Quốc liên về "an ninh tập thể", đồng thời lũng đoạn những mối liên minh của Pháp với Đông Âu, trong đó Ba Lan là pháo đài vững chắc. Người dân Đức vốn thù ghét Ba Lan có thể không hiểu được, nhưng đối với Hitler một trong những lợi điểm của chế độ độc tài là có thể tạm thời theo đuổi chính sách mất lòng dân để đạt mục đích trong lâu dài.

Ngày 26 tháng 1 năm 1934, hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Ba Lan có hiệu lực trong 10 năm được ký kết. Từ ngày này, Ba Lan dần dần rời xa khỏi Pháp, nước bảo vệ Ba Lan từ khi Ba Lan ra đời năm 1919, và trở nên thân cận hơn với Đức Quốc xã. Đấy là con đường dẫn đến sự sụp đổ của Ba Lan trước khi hiệp ước bất tương xâm hết hạn.

Hitler thôn tính Tiệp Khắc

Nhàm chuẩn bị thôn tính Tiệp Khắc, Hitler kết hợp những yếu tố lừa dối, khủng bố tinh thần, chớp thời cơ và đánh nước cờ liều. Hitler viện cớ người Đức thiểu số Sudeten ở Tiệp Khắc bị áp bức để quấy động, khuynh đảo, tung hỏa mù và gây hiểu lầm giữa những sắc dân ở nước này, và che giấu mục đích thực sự của ông: để hạ gục Tiệp Khắc và chiếm lấy lãnh thổ cùng dân cư cho Đế chế thứ Ba. Hitler phổ biến ý định này ngày 5 tháng 11 năm 1937 cho giới chỉ huy quân đội và ngoại giao cao cấp.

Vì muốn xoa dịu Hitler, Thủ tướng Anh Arthur Neville Chamberlain đi đến hội kiến với Hitler tại Berchtesgaden ngày 15 tháng 9 năm 1938. Vị khách đã 69 tuổi và chưa từng đi máy bay lại có cuộc hành trình dài 7 tiếng đồng hồ (kể cả chặng tàu lửa mất 3 tiếng) để đến địa điểm hội kiến ở phần xa nhất của nước Đức. Hitler đã không tạo thuận lợi để đề nghị nơi gặp gỡ bên sông Rhein, vốn có thể giảm đường bay còn một nửa. Đấy là chủ định khủng bố thể chất đầu tiên.

Kế tiếp là những màn hù dọa của Hitler, trong Đức không đủ mạnh để tham chiến chống lại Tiệp Khắc và Anh-Pháp, chưa kể đến Liên Xô. Nếu Đức gây hấn, Đức sẽ chiến bại một cách nhanh chóng và dễ dàng, và đây sẽ là dấu chấm hết cho Hitler và Đế chế thứ Ba. Nếu vào giờ chót chiến tranh toàn Châu Âu không thể tránh khỏi, Quân đội Đức hẳn đã lật đổ Hitler ngay sau khi ông ra lệnh tấn công Tiệp Khắc.

Trò lừa dối chủ yếu là Hitler cam kết vấn đề Tiệp Khắc là yêu cầu cuối cùng của ông ở Châu Âu về lãnh thổ. Vì thế, Chamberlain gây áp lực bắt Tiệp Khắc phải nhượng bộ. Kết quả là Hiệp ước München, theo đó Tiệp Khắc nhường cho Đức gần 30.000 kilômét vuông lãnh thổ. Trên lãnh thổ này là một hệ thống lô cốt mà từ trước đến giờ tạo nên tuyến phòng thủ vững chắc nhất Châu Âu, có lẽ chỉ kém Phòng tuyến Maginot của Pháp. Cả hệ thống đường sắt, đường bộ, điện thoại và điện tín của Tiệp Khắc đều bị xáo trộn. Theo số liệu của Đức, Tiệp Khắc mất trên dưới 80% than non, hóa chất, xi măng; trên dưới 70% than đá, sắt, thép, điện năng; và 40% gỗ. Một đất nước công nghiệp phồn thịnh trong phút chốc bị tan rã và phá sản.

Dù đã đạt thắng lợi lớn lao và làm nhục cả Tiệp Khắc lẫn các nước dân chủ phương Tây, Hitler vẫn thất vọng về kết quả của Hiệp ước München. Ông ta thán với tùy tùng khi trở về Berlin: "Cái ông ấy [chỉ Chamberlain] đã làm tôi mất cơ hội tiến vào Praha!" Đấy chính là điều Hitler mong muốn ngay từ đầu, như ông đã liên tục thổ lộ với tướng lĩnh từ lúc phát biểu với họ ngày 5 tháng 11 năm trước. Lúc ấy, ông đã giải thích rằng việc thôn tính Áo và Tiệp Khắc chỉ là bước đầu để mở rộng Lebenraum – "không gian sinh sống" – về miền Đông và tính sổ với Pháp bằng quân sự ở miền Tây. Như ông đã bảo Thủ tướng Hungary ngày 20 tháng 9, cách tốt nhất là "trừ khử Tiệp Khắc". Ông nói đấy là "giải pháp thỏa đáng duy nhất". Ông chỉ e ngại "nguy cơ" là người Tiệp sẽ nhận chịu mọi yêu sách của ông.

Kế tiếp, ông Chamberlain lại đến München và ép buộc người Tiệp nhận chịu mọi yêu sách của Đức và do đó đã tước đi cơ hội cho Hitler thôn tính bằng vũ lực. Đấy là tư tưởng xảo trá của Hitler. Sau này, ông thổ lộ với tướng lĩnh: "Rõ ràng là ngay từ đầu tôi không thể hài lòng với lãnh thổ Sudetenland. Đấy chỉ là giải pháp nửa vời."

Tổng thống Tiệp Khắc Emil Hácha đến hội kiến với Hitler, và cũng chịu một trận khủng bố tinh thần. Hitler tuyên bố:

Sáu giờ sáng ngày mai Quân đội Đức sẽ tiến vào Tiệp Khắc từ mọi ngả và Không quân Đức sẽ chiếm lấy các sân bay của Tiệp Khắc. Có hai khả năng xảy ra. Thứ nhất là việc tiến quân của Đức có thể dẫn đến nổ súng. Trong trường hợp này, mọi kháng cự sẽ bị đập tan... Khả năng kia là việc tiến quân được thực hiện theo cách ôn hòa, trong trường hợp này sẽ dễ dàng cho Lãnh tụ chấp thuận Tiệp Khắc có đời sống cho riêng họ, được tự trị, và sẽ được hưởng phần nào quyền tự do cho quốc gia...

Nếu phải chiến đấu... trong hai ngày Quân đội Tiệp Khắc sẽ tan tành. Dĩ nhiên là có vài người Đức cũng bị giết và điều này sẽ kéo theo lòng hận thù vốn sẽ ngăn chặn ông chấp thuận quyền tự trị...

Lúc Hitler tạm chia tay với khách, đồng hồ chỉ 2 giờ 15 khuya, nhưng Hermann Göring và Joachim von Ribbentrop tiếp tục gây áp lực lên Tổng thống cùng Ngoại trưởng. Tổng thống Hácha ngã ra bất tỉnh, được cứu cho tỉnh lại rồi bị ép nói chuyện với chính phủ của ông ở Praha và khuyên nên nhượng bộ. Rồi ông loạng choạng trở lại gặp Hitler mà ký bản án tử hình cho Tiệp Khắc. Bây giờ là 4 giờ sáng kém 5 phút ngày 16 tháng 3 năm 1939.

Lúc 6 giờ sáng ngày 15 tháng 3 năm 1939, quân Đức tràn vào Tiệp Khắc. Họ không gặp sự kháng cự nào, và đến buổi tối Hitler có thể tiến bước như người chiến thắng vào thủ đô Praha. Trước khi rời Berlin, Hitler ra một tuyên cáo hùng hồn cho dân Đức, lặp lại lời dối trá về những hành động "quá trớn man dại" và "khủng bố" của người Tiệp mà ông bị bắt buộc phải ra tay chấm dứt, và tuyên bố một cách hãnh diện "Tiệp Khắc đã bị xóa sổ!"

Hitler thôn tính Slovakia

Với mục đích làm suy yếu Tiệp Khắc, Đức muốn tách Slovakia khỏi Tiệp Khắc. Để thực hiện việc này, Đức giúp Josef Tiso (nguyên Thủ tướng của Slovakia đã bị Tổng thống Hácha cách chức) thảo một bức điện tín mà ông này gửi cho Hitler để tuyên cáo nền độc lập của Slovakia và yêu cầu Hitler bảo vệ cho quốc gia mới này. Ngày 16 tháng 3 năm 1939, thể theo lời "yêu cầu" của Tiso, Hitler đặt Slovakia dưới sự bảo vệ của Đức. Quân đội Đức nhanh chóng tiến vào Slovakia để thực hiện sự "bảo vệ". Đức và Slovakia ký kết "Hiệp ước Bảo vệ". Thủ tướng Anh Chamberlain dựa trên tuyên ngôn "độc lập" của Slovakia để viện cớ Anh không cần giữ lời cam kết. Thế là, chiến lược của Hitler đã có kết quả toàn hảo. Ông đã cho Chamberlain một con đường thoát và Chamberlain đã chọn con đường này.

4-Tính hiếu chiến của Hitler:

“Trong buổi họp mật ngày 23 tháng 11 năm 1939 trước tướng lĩnh cấp cao để chuẩn bị kế hoạch tiêu diệt Hà Lan và Bỉ, Hitler phát biểu với đầu óc hoang tưởng một cách nguy hiểm:

Tôi phải nói về tôi với tất cả sự khiêm tốn: không thể thay thế. Không ai trong giới quân sự hoặc dân sự có thể thay thế tôi... Tôi tin tưởng vào năng lực trong tri thức của tôi và quyết định của tôi... Không một ai đã tạo được thành tựu như tôi... Tôi đã dẫn dắt nhân dân Đức lên một tầm cao mới, dù cho nếu bây giới thế giới ghét bỏ ta... Vận mệnh của nước Đức chỉ tùy thuộc nơi tôi. Tôi sẽ theo đấy mà hành xử..

Theo nhiều khía cạnh, ngày 23 tháng 11 năm 1939 là một điểm mốc, đánh dấu vị thế áp đảo của Hitler trong Quân đội Đức. Từ ngày này trở đi, người cựu hạ sĩ gốc Áo xem sự suy xét chính trị và quân sự của mình là vượt trội so với các tướng lĩnh, và do đó không muốn nghe họ tham mưu cho ông hoặc không cho phép họ chỉ trích ông. Kết quả chung cuộc sẽ là một thảm họa cho tất cả.

Hitler xua quân Đức tiến công Liên Xô ngày 22 tháng 6 năm 1941 với chiến thuật thần tốc đã giúp Đức hạ gục nhanh chóng Ba Lan và Tây Âu. Ngày 3 tháng 10, Hitler tuyên cáo với dân Đức:

Tôi tuyên bố ngày hôm nay, và tôi tuyên bố mà không ngần ngại, rằng kẻ thù ở miền Đông (Liên Xô) đã bị đánh gục và sẽ chẳng bao giờ vươn lên được nữa... Đó là kết luận quá sớm, vì tính hoang tưởng và ngông cuồng, tự kiêu tự đại. Các tướng lĩnh Đức chủ trương phương án tiến thẳng đến thủ đô Moskva. Các tướng lĩnh biện luận với Hitler rằng Moskva là trung tâm sản xuất vũ khí quan trọng, và quan trọng hơn, cũng là trung tâm giao thông liên lạc của nước Nga. Nếu chiếm được Moskva, Liên Xô sẽ bị cắt nguồn cung cấp vũ khí thiết yếu, và còn không thể vận chuyển binh sĩ cùng hàng hậu cần đến những trận tuyến ở xa, rồi họ sẽ yếu đi, tàn tạ và sụp đổ. Hitler thì muốn chiếm lấy Ukraina cũng như những mỏ dầu vùng Caucasus, cùng lúc chiếm lấy Leningrad và bắt tay với quân Phần Lan ở miền bắc. Để đạt được cả hai mục tiêu này, phải tách vài sư đoàn bộ binh và thiết giáp từ Tập đoàn quân Trung tâm để điều đi miền bắc và nhất là miền nam. Mũi tiến công đến Moskva phải đình lại. Đến ngày 5 tháng 9, Hitler mới ra lệnh gấp rút tiến đến Moskva.

Nhưng một lần nữa, Hitler là nạn nhân của tính ngông cuồng hoang tưởng. Chiếm Moskva trước mùa đông là không đủ. Ông ra lệnh quân Đức cùng lúc phải chiếm lấy Leningrad (hiện nay là Sankt-Peterburg, bắt tay với quân Phần Lan phía ngoài thành phố này. Kết quả là Đức không thể chiếm được mục tiêu nào cả. Đến ngày 26 tháng 11, Đức liệt kê tổng cộng thương vong trên mặt trận miền Đông (không kể người bệnh) là 743.112 sĩ quan và binh sĩ – 23 phần trăm của lực lượng với quân số tổng cộng 3,2 triệu.

Sang năm 1942, tính hoang tưởng lại làm hại Hitler. Tham mưu trưởng Lục quân Franz Ritter von Halder ghi lại trong nhật ký: "Việc liên tục đánh giá thấp khả năng của đối phương đang mang những hình thức lố bịch và trở nên nguy hiểm." Halder cho là Hitler nhận định quá đáng về sức mạnh của chính mình và đánh giá quá thấp sức mạnh của địch thủ qua mẩu chuyện sau đây: "Có lần khi nghe trình bày một báo cáo khá khách quan, cho biết vào năm 1942 Stalin có thể điều động từ 1 triệu đến 1,25 triệu binh sĩ mới còn khỏe mạnh cho vùng bắc Stalingrad và tây sông Volga chưa kể nửa triệu quân trong vùng Caucasus, và công suất chế tạo xe tăng hàng đầu lên đến ít nhất 1.200 chiếc mỗi tháng, Hitler nhảy xổ đến người đang đọc báo cáo, hai bàn tay nắm lại thành nắm đấm, miệng sùi bọt ra hai bên mép, ra lệnh ông này không được nói năng nhảm nhí nữa."

Vì tính hoang tưởng, Hitler không màng nghe sự tham mưu của tướng lĩnh, mà vẫn nhất quyết một cách cuồng tín chiếm lấy cả hai mục tiêu: Stalingrad cùng lúc Caucasus. Đây là một trong những động thái có tính định mệnh nhất của Hitler trong cuộc chiến. Vì lẽ, rốt cuộc Hitler không thể chiếm được mục tiêu nào, mà còn chịu một chiến bại nhục nhã nhất trong lịch sử Quân đội Đức, khi Thống chế Friedrich Paulus dẫn Đại đoàn thứ Sáu đầu hàng Liên Xô.”

Sự lường gạt của Hitler đối với các nước Châu Âu là Ðức sẽ tôn trọng hoà bình,để rồi sau đó thôn tính các nước Ba Lan ,Tiệp Khắc, Áo,Pháp đã làm cho các nước Châu Âu và Hoa Kỳ đoàn kết lại để chống Ðức và dẩn đến chế độ Quốc Xả phải bị diệt vong.

5-Nói về sự tàn ác của chế độ Phát Xít Ðức :

Khoảng 1,5 triệu người, phần lớn là người Do Thái đến từ các nước châu Âu, đã chết trong các phòng gas hoặc chết vì bệnh tật và kiệt sức ở trại Auschwitz-Birkenau bên cạnh. Hàng loạt trại tập trung địa ngục đã được Adolf Hitler xây đựng nhằm thực hiện "giải pháp cuối cùng" của mình là giết người dân Do Thái ở châu Âu.

-6 triệu người Do Thái đã chết tại các trại tập trung của Đức quốc xã. Ngoài ra, vài triệu người trong đó có các tù nhân chiến tranh người Liên Xô cũ, người Ấn Độ, những người phản đối chính sách chính trị và tình dục đồng giới của Đức quốc xã cũng bị tàn sát.

Thiệt hại nhân mạng trong Ðệ Nhị Thế chiến :Khoảng 62 triệu người đã bị chết do cuộc chiến này, kể cả các hành động tàn sát diệt chủng của Đức Quốc Xã (Holocaust). 60% người chết là thường dân, chết vì bệnh dịch, nạn đói, nạn diệt chủng và bom đạn. Thiệt hại nặng nhất là Liên Xô với 23 triệu người chết, Trung Quốc với 10 triệu người, theo phần trăm dân số thì là Ba Lan với 16% (5.6 triệu người chết so với 34.8 triêu người trước chiến tranh).

Vì tính hiếu chiến và hoang tưởng nầy ,sau cùng là cuối tháng Tư năm 1945 Hitler đã thất trận và đưa nước Ðức vào một thảm hoạ mới còn tai hại hơn sau lần thua trận ở Ðệ Nhất Thế Chiến .Lần nầy nước Ðức bị các phe Ðồng Minh chia cắt làm hai Ðông Ðức , Tây Ðức và đặt căn cứ quân sự lên lãnh thổ Ðức để kiểm soát chế tài.

3- Hồ Chí Minh :



Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc ) Ðài TưởngNiệm Nạn Nhân của Chủ Nghĩa Cộng Sản

Trước tiên xin minh định trong phần phân tích sau đây,tôi không có ý so sánh sự nghiệp của Hồ Chí Minh với 2 người nổi danh kể trên bởi vì Hồ không thực hiện được sự nghiệp gì cho dân Việt Nam mà chúng ta chĩ tìm hiểu sự tương đồng về thủ đoạn lừa dối dân của Hồ so với 2 người nổi tiếng là độc tài sắt máu như Tần Thuỷ Hoàng và Hitler mà thôi. Trong suốt giai đoạn 30 năm từ 1945 đến 1975 Hồ Chí Minh đã 3 lần lường gạt dân Việt Nam cũng như toàn thế giới:

a-Che dấu chiêu bài Cộng Sản :

Là một cán bộ của Quốc Tế Cộng Sản chĩ biết tuân hành các quyền lợi và chủ trương của tập đoàn CSQT nhưng Hồ Chí Minh quỹ quyệt đánh lừa dân Việt vốn đang khao khát Ðộc Lập ,Tự Do sau trên 80 năm bị Thực Dân Pháp đô hộ (1862-1945) .Lợi dụng lòng yêu nước vô bờ bến của toàn dân Việt ,Hồ đem chủ thuyết Cộng sản ngoại lai áp dụng vào Việt Nam gây biết bao đau thương cho Dân Tộc .Trong khi giả vờ kêu gọi các đảng phái khác cùng hợp tác chống Pháp thì Hồ chỉ thị cho Ðảng CSVN sát hại những nhà ái quốc không CS,che dấu bộ mặt CS khát máu bằng hình thức tuyên bố tự giải tán đảng Cộng Sản Ðông Dương (11tháng 11 năm 1945) để dể dàng lôi kéo các đảng phái khác hợp tác chống Pháp nhưng thực chất họ ngấm ngầm ám hại các phần tử yêu nước không CS.

-http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file;=article&sid;=2263 Ho chí Minh cán bộ QTCS

Trong Kkháng chiến chống Pháp, Hồ kêu gọi Ðấu tranh Giải Phóng và dấu nhẹm phương thức “Ðấu tranh Giai Cấp” để thu phục nhân tâm vốn đã không ưa chủ trương sắt máu của CS trong phong trào Sô Viết Nghệ Tĩnh .

Năm 1945 Hồ giả vờ liên lạc với lực lượng Ðồng Minh (Mỹ) ,sau đó nhờ Hoa Kỳ huấn luyện và trang bị cho đơn vị Tuyên Truyền Giải Phóng Quân nhưng thực ra Việt Minh là công cụ của CSQT mà thôi!

Trong suốt thời gian chiến tranh chống Pháp , đảng CSVN giấu mặt để lường gạt lợi dụng những kháng chiến quân không theo Chủ Nghiã Cộng sản ,trong đó có những trí thức yêu nước cũng lầm lạc tưởng rằng Việt Minh là tập hợp của phong trào toàn dân kháng Pháp nhưng họ đâu biết đã bị đảng CSVN thao túngvà sau nầy CSVN đã lần lược giết hại những ai yêu nước mà không tôn thờ Chủ Nghiã Cộng sản .Hồ đã lợi dụng phong trào kháng chiến để phục vụ cho ý đồ thôn tính toàn cầu của CSQT bỏ mặc và chà đạp quyền lợi Dân Tộc điển hình là vụ ký hoà ước Sơ Bộ 1946 với Pháp để CSVN rảnh tay tiêu diệt các đảng phái khác. Trong cuộc bầu cử Quốc Hội lần thứ nhất với tổng số ghế đại biểu 403 ,Hồ chia cho Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội 70 ghế,nói là để tạo phong trào đoàn kết các đảng phái để đánh đuổi thực dân Pháp,nhưng chĩ 6 tháng sau thủ lĩnh các đảng phái như cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam,Vũ Hồng Khanh v.v…đã phải bỏ chạy và đào thoát sang Trung Quốc để khỏi bị CSVN sát hại.

-http://vietnam-on-line.com/hph/Suutap/30namnhinlai.htm CSVN tiêu diệt các đảng phái

Cuộc Cải Cách Ruộng Ðất năm 1955-1956 đã giết hại trên 500.000 đồng bào vô tội bị quy là địa chủ thực chất là một cuộc cướp đoạt tài sản và đất đai một cách công khai của dân vào sở hữu toàn dân theo kiểu Cộng Sản Quốc Tế đã áp dụng.Hồ Chí Minh và đảng CSVN tung ra luận điệu tuyên truyền là sẽ lấy đất đai của địa chủ để phân phát cho dân nghèo ,người nông dân chưa được hưởng quyền sở hữu ruộng đất một mùa luá thì đã phải vào Hợp Tác Xả ,tất cả đất đai trên toàn miền Bắc thuộc về sở hữu toàn dân ,có nghĩa là CSVN cướp trắng đất đai của mọi người và bây giờ nông dân phải sống lệ thuộc vào các Hợp Tác xả nông nghiệp bằnbg hình thức chấm công.

http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file;=article&sid;=137 Cải Cách Ruộng Ðất.

Giửa năm 1956 CSVN lường gạt trí thức Miền Bắc qua lời kêu gọi : góp ý sửa chửa sai lầm của đảng qua hình thức “Trăm Hoa Ðua Nở”,”Nhà Nhà lên tiếng” để rồi sau đó đồng loạt thanh trừng hàng ngàn người trí thức, những ai thật lòng góp ý ,vach cái sai của đảng. Ðiển hình là các nạn nhân như nhà văn Phan Khôi ,Trần Dần ,luật sư Nguyễn Mạnh Tường….bị tù đày và trù dập hàng chục năm sau.

b- Che dấu ý đồ thôn tính Miền Nam bằng hình thức tuyên truyền xảo trá:

Kế tiếp là sau khi đình chiến năm 1954 do Hiệp Ðịnh Genève, các nước trên thế giới đã đồng ý thông qua giải pháp chia đôi Việt Nam ,Miền Nam theo chế độ Tự Do dân Chủ ,Miền Bắc theo Cộng sản không xâm lăng lẩn nhau cùng tồn tại ,cùng kiến thiết để mai sau thống nhất không đổ máu như các nước Ðông vàTây Ðức,Trung Hoa Lục Ðịa và Ðài Loan ,Nam Hàn và Bắc Hàn . Nhưng Hồ Chí Minh là một tay sai của CSQT chĩ đặt quyền lợi của Vô sản lên trên quyền lợi và sự mong mỏi Hoà Bình của toàn dân Việt hai Miền .Trước năm 1954 với âm mưu thôn tính Miền Nam VN ,Hồ đã bí mật đem ém trên 60.000 quân ở lại Miền Nam thay vì tập kết ra Bắc như hiệp định đình chiền Genève đã quy định.

-http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2004/07/printable/040719_phamcaoduong.shtml Hoi Nghi Genève

Sau khi nhận chỉ thị của CSQT tháng 12 năm 1960 Hồ đã chỉ thị tấn công bằng võ lực ,vượt qua vỹ tuyến 17 để xâm lược Miền Nam khiến cho hàng triệu sinh linh vô tội hai miền phải chịu hy sinh vô ích, đất nước Việt là chổ thử bom đạn của quốc tế,nơi tranh dành quyền lực của các cường quốc còn sinh mạng người Việt Nam thì bị hy sinh cho mưu đồ của hai thế lực Tự Do và Cộng sản .

c-Lừa dối nhân dân Miền Nam:

Trong chiến tranh xâm lược Miền Nam ,Hồ đã hứa với nhân dân Miền Nam là sẽ cho họ tự do lựa chọn thể chế chính trị và tôn trọng ý nguyện của họ. Thực chất Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là công cụ ,tay sai cho mưu đồ của CS Bắc Việt,lợi dụng các tổ chức chính trị tại Miền Nam ,lừa gạt các tôn giáo , đảng phái là sẽ tôn trọng ý nguyện của họ trong việc lưạ chọn thể chế chính trị sau khi thống nhất đất nước.

Những cán bộ của MTGPMN góp công không nhỏ trong cuộc chiến 1954-1975 sau đó đã bị bạc đải và giải tán không kèn không trống tháng 10/1975 .Tất cả những tổ chức thuộc MTGPMN không phải là Cộng Sản đã bị khinh rẻ và ám hại sau nầy.Sau 1975 áp dụng hình thức trả thù nhân dân Miền Nam bằng những thủ đoạn : ép dân Miền Nam đi vùng Kinh Tế Mới , đánh tư sản mại bản ,bắt giam và áp dụng cực hình gần một triệu quân cán chính Miền Nam qua hình thức tập trung Cải Tạo v.v… .Trong khi người dân Miền Nam ,gia đình nào cũng có liên hệ mật thiết cả hai phe Quốc Cộng ,gây nên thảm cảnh nồi da xáo thịt , đi ngược lại nguyện vọng Ðoàn Kết ,Hoà Giải của nhân dân Miền Nam vốn đã có từ lâu đời.

Từ đó người dân Miền Nam nói chung không còn tin tưởng nơi chính sách nói một đàng làm một nẻo của CS nửa.Thậm chí có những cán bộ CSVN gốc Miền Nam cũng bất mản và phản đối ra mặt như Nguyễn Hộ,Nguyễn Văn Trấn ,Dương Quỳnh Hoa,Nguyễn Hữu Thọ v.v…

-http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060228_duongquynhhoa_orbit.shtml MTGPMN bi gi ải th ể

-http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/03/060327_nguyenhuutho_speech.shtml N H Th ọ

-http://www.vietnet.no/modules.php?name=News&file;=article&sid;=1683 Duong Q Hoa Nguyen H ủu Th ọ

Sự lưà gạt của Hồ Chí Minh tinh vi và khéo léo đến nổi nhiều người trong nước có nhận định sai lầm về bản thân Hồ,mà ngay đến nhiều nhà báo ,trí thức phương Tây cũng bị lầm lẫn cho Hồ là người có tinh thần quốc gia Dân Tộc!.Nhưng ngày nay với phương tiện thông tinh toàn cầu ,với thời gian nhiều vụ việc đã đưọc giải mật và nhất là hàng khối tài liệu của Liên Sô và Khối CS Ðông Âu sụp đổ đã đua ra ánh sáng nhiều sự kiện lịch sử hản hữu.

Hồ Chí Minh ngày nay hiện rỏ nguyên hình là con người của CSQT,lảnh lương của CSQT từ năm 1923.Suốt đời chỉ cúc cung tận tụy cho CSQT,nhận chỉ thị và áp dụng các quyết nghị của QTCS cho dù những điều đó có phương hại đến Dân Tộc và Ðất Nước Việt Nam.

Ðảng CSVN luôn tôn thờ chủ thuyết CS, đã trót ngụy tạo Hồ chí Minh là một người yêu nước,suốt đời vì Dân Tộc cho dù ngày nay sự thật đã phơi bày,nhưng vốn dỉ chính quyền CSVN dù không còn một chút tin tưởng nơi giáo điều cổ hủ Cộng Sản, nhưng chúng luôn bảo vệ thần tượng mà toàn đảng đã bỏ công nhào nặn ,dối gạt dân Việt Nam từ lâu.Chẳng qua là vì sự sống còn của chúng nên bọn chúng phải tiếp tục lừa gạt người dân trong nước một phen nửa mà thôi.

-http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file;=article&sid;=2292 HCM bàicủa sử gia Trần Gia Phụng.

Cố tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu đã nói một câu để đời cho những ai còn nhẹ dạ ,cả tin vào lời đường mật của CS :” Ðừng tin những gì CS nói,mà hảy nhìn kỷ những gì CS làm”.

Tượng đài nạn nhân Công Sản tại Washington DC,Hoa Kỳ vừa khánh thành đã nói lên cho sự bạo tàn của chủ nghĩa CS đã gây ra cái chết cho 100 triệu nạn nhân ,đủ nói lên sự độc ác của chủ thuyết vô nhân đạo và lạc hậu đang bị đào thải và loài người lên án.Trong đó thành tích của Hồ Chí Minh góp phần cho Cộng Sản Quốc Tế để sát hại Dân Tộc Việt Nam cũng không phải là nhỏ!

-http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=62728 Tuợng Ðài nạn nhân CS

Long Ðiền 8/2007.